Trung tâm Đào tạo Vietsourcing

Dữ liệu kế toán thường được trình bày dưới dạng bảng số, đôi khi chỉ đơn giản là bản in ra từ bảng tính hoặc  báo cáo từ phần mềm kế toán. Mặc dù cách trình bày này cung cấp các số liệu chi tiết, nhưng có thể không  phải lúc nào cũng là cách hiệu quả nhất để trình bày và truyền đạt thông tin. Đôi khi chúng ta cần làm nổi bật  một số thông tin chính, nhấn mạnh mối quan hệ giữa các số liệu nhất định hoặc xác định xu hướng. Việc trình  bày dữ liệu phù hợp dưới dạng đồ thị hoặc biểu đồ có thể là một công cụ phân tích hữu ích và nếu sau đó dữ liệu được giải thích hiệu quả thì điều này có thể tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định. Giáo trình cho MA2  và FMA/MA yêu cầu thí sinh phải có khả năng mô tả các đặc điểm chính của các biểu đồ khác nhau, xác định  các biểu đồ phù hợp trong các tình huống cụ thể và giải thích dữ liệu được trình bày trong các biểu đồ. Tài liệu  trong bài viết này cũng phù hợp với các thí sinh đang học MA1. 

Có nhiều phần mềm cho phép người dùng tạo biểu đồ trông rất chuyên nghiệp nhưng điều quan trọng là phải  xem xét các loại biểu đồ khác nhau có sẵn và chọn loại biểu đồ thích hợp cho dữ liệu được trình bày. Trình bày  dữ liệu trong một biểu đồ không phù hợp có thể truyền đạt thông tin có thể gây hiểu nhầm. Thuật ngữ ‘biểu đồ’  thường được coi là bao gồm tất cả các loại biểu đồ và bất kỳ loại biểu đồ nào khác được sử dụng để trình bày  dữ liệu bằng hình ảnh. Một số loại biểu đồ có xu hướng được mô tả dưới dạng đồ thị trong khi những loại khác  sử dụng biểu đồ thuật ngữ, ví dụ: thuật ngữ biểu đồ dạng đường thẳng được nghe nhiều hơn nhưng thuật  ngữ biểu đồ khối. Các từ ‘biểu đồ’ và ‘đồ thị’ được coi là có thể hoán đổi cho mục đích của bài viết này. 

Một loạt các loại biểu đồ sẽ được xem xét trong bài viết này và các tính năng loại biểu đồ cụ thể phù hợp với  loại dữ liệu được trình bày sẽ được tô sáng. Một số lời khuyên hữu ích về cách trình bày cũng sẽ được cung  cấp, cùng với hướng dẫn diễn giải dữ liệu được trình bày trong biểu đồ. Để minh họa điểm đảm bảo rằng loại  biểu đồ thích hợp được chọn, một số dữ liệu đã được trình bày bằng cách sử dụng loại biểu đồ không phù hợp  dẫn đến việc truyền đạt thông tin không hiệu quả. 

Biểu đồ cột, thanh và đường thẳng cho một tập dữ liệu (Biểu đồ 1-5) 

Trong mỗi Biểu đồ 1-5, một chuỗi dữ liệu duy nhất được biểu thị trên biểu đồ. Thông thường, dữ liệu được  trình bày trong loại biểu đồ này kéo dài trong một số khoảng thời gian như năm, quý hoặc tháng nhưng các  loại biểu đồ này cũng có thể được sử dụng để biểu thị dữ liệu từ một khoảng thời gian, ví dụ: từ các khu vực  khác nhau hoặc có thể cho các mức đầu ra khác nhau. Các biểu đồ này được vẽ bằng hai trục, với biến độc  lập được hiển thị trên trục x và biến phụ thuộc được hiển thị trên trục y. 

Biểu đồ 1 và 2 là những ví dụ về biểu đồ cột đơn giản. Các cột biểu thị giá trị của dữ liệu theo chiều dọc và  mỗi cột sẽ có chiều rộng đồng nhất. Lưu ý rằng chiều cao của các cột khác nhau để phản ánh các giá trị dữ liệu  nhưng chiều rộng của mỗi cột trên một biểu đồ cụ thể sẽ giống nhau. Mặc dù hai biểu đồ là loại biểu đồ cơ bản  giống nhau, nhưng có một số khác biệt nhỏ. Biểu đồ 1 hiển thị dữ liệu về tổng doanh số bán hàng trong khoảng  thời gian 5 năm với các năm được hiển thị trên trục x và số tiền bằng đô la trên trục y. Một chú giải được hiển  thị nhấn mạnh dữ liệu liên quan đến Tổng Doanh số bán hàng và chú giải thường được phần mềm biểu đồ tự động đưa vào nhưng có thể là không cần thiết khi chỉ có một chuỗi dữ liệu, như vậy chỉ cần biểu đồ có tiêu đề 

phù hợp. Biểu đồ 2 cũng là một biểu đồ cột đơn giản nhưng dữ liệu chỉ liên quan đến một năm và mỗi cột đại 

diện cho một khu vực miền của doanh nghiệp nên trục x không phải là năm mà là các khu vực theo miền Bắc,  Nam, Đông và Tây. Cũng lưu ý rằng biểu đồ đã thay đổi một chút khi được trình bày ở định dạng 3D, phần  chú giải đã bị xóa và tỷ lệ trục y ở dạng làm tròn đến đơn vị nghìn đã được thay đổi một cách thích hợp. Biểu đồ 1 

Tổng doanh thu 

Tổng  

doanh thu 

Biểu đồ 2 

Doanh thu chia theo miềnBiểu đồ 3 là một ví dụ về biểu đồ dạng thanh đơn giản. Biểu đồ thanh tương tự như biểu đồ cột và được sử dụng để trình bày các loại thông tin tương tự nhưng dữ liệu được trình bày ở dạng thanh ngang thay vì cột dọc,  vì vậy năm vẫn là biến độc lập và do đó vẫn được biểu thị trên trục x nhưng điều này hiện được hiển thị trên  trục dọc thay vì trục ngang. 

Biểu đồ 3 

Tổng doanh thu 

Biểu đồ 4 và 5 là các biểu đồ đường thẳng đơn giản. Đây là một kiểu biểu đồ rất phổ biến, đặc biệt khi hiển thị sự thay đổi theo thời gian. Đối với người đọc, chúng đưa ra dấu hiệu chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn  tiếp theo khi các điểm được kết nối và đối với Biểu đồ 4 và 5, điều này mang lại cảm giác thay đổi tốt và có  thể giúp người đọc xác định xu hướng. Trên thực tế, cả hai biểu đồ này đều hiển thị dữ liệu giống hệt nhau  nhưng do những thay đổi về tỷ lệ trục y, người đọc có thể diễn giải thông tin theo cách khác. 

Biểu đồ 4 

Tổng doanh thu 

Biểu đồ 5 

Tổng doanh thu

Người đọc sẽ diễn giải dữ liệu trong Biểu đồ 1–5 như thế nào? 

Biểu đồ 1 và 3 hiển thị dữ liệu giống hệt nhau được trình bày ở các định dạng biểu đồ tương tự (cột và thanh). Cả hai loại biểu đồ này đều cung cấp cho người đọc rõ ràng về xu hướng tăng dần dần trong tổng doanh số bán  hàng, giá trị doanh số bán hàng gần đúng đạt được mỗi năm có thể được đọc từ biểu đồ. Xu hướng này có thể rõ ràng hơn đối với người đọc trong các biểu đồ đường được hiển thị trong Biểu đồ 4 và 5. Trong Biểu đồ 4,  tỷ lệ trục y dọc bắt đầu từ 0 và tăng dần theo tỉ lệ. Người đọc biểu đồ này có thể giải thích xu hướng bán hàng  tăng trưởng khá dần dần trong khoảng thời gian 5 năm. Hãy đối chiếu điều này với thông điệp mà Biểu đồ 5  truyền đạt. Biểu đồ này sử dụng cùng một dữ liệu nhưng thông điệp được truyền tải ở đây là một trong những  mức tăng mạnh trong giai đoạn 2009–2011 và mức tăng giữa năm 2012 và 2013 có vẻ quan trọng hơn so với  trong Biểu đồ 4. Đây là kết quả của việc thay đổi tỷ lệ sao cho tỷ lệ trục dọc bắt đầu ở một giá trị ngay bên  dưới giá trị dữ liệu đầu tiên. Biểu đồ 2 cung cấp cho người đọc một bức tranh rõ ràng về sự phân chia doanh  số bán hàng theo khu vực trong một năm cụ thể và nhấn mạnh rằng khu vực miền bán hàng khu vực miền Tây  có đóng góp nhỏ hơn nhiều vào tổng doanh số bán hàng so với ba khu vực còn lại. Cần lưu ý rằng cần cẩn thận  khi đọc các giá trị từ biểu đồ 3D thuộc loại này. Trong Biểu đồ 2, doanh thu của khu vực phía Bắc thực sự tiệm  cận 200,000 đô la, 

Biểu đồ cột, thanh và đường cho nhiều tập dữ liệu (Biểu đồ 6-8) 

Tất cả các biểu đồ cột, thanh và đường đều có thể được sử dụng để hiển thị nhiều bộ dữ liệu miễn là phạm vi  số của dữ liệu tương tự nhau. (Lưu ý rằng có thể vẽ hai tập hợp dữ liệu có giá trị dữ liệu khác nhau đáng kể trên cùng một biểu đồ nhưng loại biểu đồ này nằm ngoài phạm vi của giáo trình). 

Biểu đồ 6 và 7 hiển thị dữ liệu cho cả tổng doanh thu và tổng chi phí được vẽ trên cùng một biểu đồ, với Biểu  đồ 6 hiển thị dữ liệu dưới dạng biểu đồ cột và Biểu đồ 7 dưới dạng biểu đồ đường. Biểu đồ 8 cho thấy tổng  doanh thu của từng khu vực miền trong số bốn khu vực trong mỗi năm năm 2009–2013. Biểu đồ cột/thanh  hiển thị nhiều tập dữ liệu đôi khi được gọi là biểu đồ cột/thanh phức hợp, mặc dù Excel sử dụng thuật ngữ 

‘nhóm’. Lưu ý rằng trong cả ba biểu đồ này, chú giải trở thành một thành phần quan trọng của biểu đồ để có  thể phân biệt các tập dữ liệu. 

Biểu đồ 6 

Tổng doanh thu & Tổng chi phí 

Tổng doanh thu 

Tổng chi phí

Biểu đồ 7 Biểu đồ 8 

Tổng doanh thu & Tổng chi phí 

Tổng doanh thu 

Tổng chi phí 

Doanh thu theo khu vực

Người đọc sẽ diễn giải dữ liệu trong Biểu đồ 6–8 như thế nào? 

Loại biểu đồ này có thể được sử dụng để so sánh các tập dữ liệu khác nhau theo giá trị tuyệt đối và trong nhiều  khoảng thời gian. Trong Biểu đồ 6 và 7, người đọc có thể so sánh mối quan hệ của tổng chi phí với tổng doanh  thu trong khoảng thời gian 5 năm và sẽ nhận thấy rằng trong năm 2012 và 2013, mức chi phí so với doanh thu  đã tăng lên. Trong Biểu đồ 6, điều này thể hiện rõ ràng khi xem xét giữa các cột cho tổng doanh thu và tổng  chi phí đã giảm. Trong Biểu đồ 7, hai đường xích lại gần nhau cho người đọc thấy rõ rằng tổng chi phí đang  tăng với tốc độ nhanh hơn tổng doanh thu. Trong Biểu đồ 8, người đọc phải đối mặt với rất nhiều dữ liệu trên  một biểu đồ với bốn bộ dữ liệu cho mỗi năm năm dẫn đến tổng cộng 20 cột trên biểu đồ này. Trong khi dữ liệu  trình bày vẫn còn rõ ràng, cần cẩn thận để không làm quá tải một biểu đồ với quá nhiều dữ liệu. Người đọc có  thể giải thích thông tin này bằng cách xem xét thành phần doanh số bán hàng theo khu vực trong một năm bất  kỳ hoặc bằng cách chọn lần lượt từng khu vực và xem xét sự thay đổi về mức doanh số bán hàng cho từng khu  vực trong khoảng thời gian 5 năm. Biểu đồ này cho phép người đọc so sánh các thành phần của doanh thu  mỗi năm theo giá trị doanh thu thực tế (sau này chúng ta sẽ xem xét các biểu đồ khác cung cấp phân tích này  

theo tỷ lệ phần trăm). Lưu ý rằng loại biểu đồ này không cho phép người đọc so sánh các thành phần của doanh  thu mỗi năm theo giá trị doanh thu thực tế. Biểu đồ này không cung cấp cho người đọc số liệu về tổng doanh  thu (trừ khi người đọc cộng tổng của bốn cột). Biểu đồ 8 cho thấy mặc dù doanh số bán hàng của khu vực phía  Bắc vẫn khá ổn định trong giai đoạn này, nhưng doanh số bán hàng của khu vực phía Nam và phía Đông có  xu hướng tăng (ngoại trừ doanh số bán hàng của khu vực phí Đông giảm nhẹ vào năm 2012) và xu hướng giảm  doanh số bán hàng của khu vực phía Tây. 

Biểu đồ cột và thanh thành phần/xếp chồng (Biểu đồ 9) 

Biểu đồ cột (hoặc thanh) thành phần, còn được gọi là biểu đồ xếp chồng, làm nổi bật không chỉ tổng giá trị chung cho nhiều khoảng thời gian (hoặc sản phẩm hoặc khu vực, v.v.) mà còn cung cấp phân tích về các thành  phần của tổng đó. Con số tổng thể được biểu thị bằng chiều cao của cột (hoặc chiều dài của thanh), và cột hoặc  thanh được chia thành các thành phần khác nhau của tổng số với mỗi thành phần được xác định bằng màu sắc,  hoa văn hoặc phủ bóng khác nhau. Biểu đồ hình tròn, sẽ được thảo luận sau, cũng có thể hiển thị phân tích  tổng thể theo các khu vực cấu thành của nó nhưng biểu đồ này chỉ có thể được hiển thị cho một khoảng thời  gian (hoặc sản phẩm/vị trí, v.v.) tại một thời điểm. 

Biểu đồ 9 là một ví dụ hiệu quả của loại biểu đồ cột chồng này. Phần trên cùng của các cột dọc phản ánh tổng  doanh số nhưng bốn thành phần được hiển thị bằng các màu khác nhau cho thấy thành phần thay đổi bằng cách  chia tổng doanh số trong khoảng thời gian 5 năm. Thông tin tương tự cũng có thể được trình bày dưới dạng  biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau với dữ liệu được biểu thị bằng các thanh ngang thành phần thay vì cột. 

Biểu đồ 9 

Doanh thu theo khu vực

Người đọc sẽ giải thích dữ liệu trong Biểu đồ 9 như thế nào? 

Bằng cách xem xét chiều cao của các cột, người đọc có thể nhận ra rõ ràng rằng có một xu hướng tăng dần về tổng doanh thu trong giai đoạn 2009–2013. Khi kiểm tra kỹ hơn các thành phần của từng cột, có vẻ như mức  doanh số bán hàng của Khu vực phía Bắc vẫn khá ổn định (chỉ hơn 200.000 đô la) mỗi năm trong khi Khu vực  phía Nam đã có mức tăng doanh số bán hàng đáng kể mỗi năm. Khu vực phía Đông dường như cũng đã tăng  doanh số bán hàng mỗi năm, ngoại trừ năm 2012. Cuối cùng, Khu vực phía Tây, chiếm mức doanh số thấp  

nhất trong năm năm, thực sự đang phải đối mặt với việc giảm doanh số bán hàng trong giai đoạn này. Biểu đồ này cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định vì làm nổi bật cả số liệu tổng thể nhưng cũng cung cấp  phân tích hữu ích về tổng số theo khu vực. 

Biểu đồ tròn (Biểu đồ 10 và 11) 

Biểu đồ hình tròn cũng hiển thị bảng phân tích các thành phần của tổng số nhưng mỗi biểu đồ hình tròn chỉ có  thể hiển thị các thành phần của tổng trong một khoảng thời gian (hoặc một sản phẩm/địa điểm, v.v.). Để hiển  thị nhiều khoảng thời gian cần có nhiều biểu đồ hình tròn. Khi chuẩn bị biểu đồ hình tròn, phần mềm biểu đồ sẽ tự động tính toán tỷ lệ phần trăm của từng thành phần so với tổng số. Tỷ lệ phần trăm sau đó được hiển thị trên một hình tròn hoặc hình tròn với toàn bộ hình tròn biểu thị 100%. 

Biểu đồ 10 và 11 là ví dụ về biểu đồ hình tròn đơn giản thể hiện sự phân tích tổng doanh thu theo khu vực trong hai năm, 2009 và 2013. Bằng cách so sánh kích thước của các lát trên hình tròn (giá trị % thường được  hiển thị trên hình tròn, mặc dù chúng có thể được hiển thị bên ngoài hình tròn hoặc được thay thế bằng các giá  trị tuyệt đối), những biểu đồ này truyền đạt rõ ràng sự thay đổi trong doanh số bán hàng của các khu vực trong  khoảng thời gian 5 năm này. Lưu ý rằng có sự khác biệt nhỏ về kiểu dáng giữa hai biểu đồ khi nhãn dữ liệu  xuất hiện trên hình tròn trong Biểu đồ 10 nhưng được hiển thị dưới dạng chú giải trong Biểu đồ 11. 

Biểu đồ 10 Biểu đồ 11 

Doanh thu theo khu vực năm 2009 Doanh thu theo khu vực năm 2013Người đọc sẽ giải thích dữ liệu trong Biểu đồ 10 và 11 như thế nào? 

Xem lại biểu đồ hình tròn đơn năm 2013 (Biểu đồ 11), bạn đọc có thể thấy rõ các khu vực phía Bắc, phía Nam  và phía Đông đều đạt mức doanh thu khá tương đồng với phía Nam chiếm 34%, phía Bắc 32% và phía Đông  chiếm 30% doanh số bán hàng trong năm. Rõ ràng là khu vực phía Tây chỉ chiếm 4% tổng doanh thu, hoạt  động kém hơn hẳn so với các khu vực khác. Tuy nhiên nếu vào cùng một dữ liệu cho năm 2009 (Biểu đồ 10)  và so sánh tỷ lệ phần trăm, rõ ràng là không phải như vậy. Năm 2009, khu vực phía Tây đóng góp 12% tổng  doanh thu. Điều đó không có nghĩa là doanh số bán hàng của khu vực phía Tây đã giảm. Các khu vực phía  Nam và phía Đông đều tăng thị phần của mình trong tổng doanh thu trong khi, giống như phía Tây, khu vực  miền phía Bắc cũng đã giảm thị phần của mình trong tổng số từ 42% năm 2009 xuống 32% vào năm 2013,  mặc dù về mặt giá trị bán hàng tuyệt đối, doanh số bán hàng của phía Bắc vẫn ổn định như thể hiện trong Biểu  đồ 8 và 9. 

Điều quan trọng cần nhớ là biểu đồ hình tròn không hiển thị tổng giá trị mà chỉ hiển thị bảng phân tích các giá  trị đó. Rất có thể một số thành phần nhất định của biểu đồ hình tròn có thể tăng theo tỷ lệ phần trăm khi so  sánh với một biểu đồ hình tròn tương tự trong khoảng thời gian trước đó nhưng nếu tổng số chung đã giảm thì  con số tuyệt đối vẫn có thể thấp hơn. 

Biểu đồ cột hoặc thanh xếp chồng 100% (Biểu đồ 12 và 13) 

Các biểu đồ 12 và 13 lần lượt hiển thị các biểu đồ cột và thanh (hoặc thành phần) được xếp chồng lên nhau  100% và các biểu đồ này cung cấp thông tin tương tự như được hiển thị trong biểu đồ hình tròn vì có thể xem  các thành phần của tổng số nhưng tổng số tiền thực tế được hiển thị là 100%. Điều này cung cấp thông tin  tương tự như những gì có thể đạt được bằng cách tạo năm biểu đồ hình tròn riêng biệt. Mặc dù tỷ lệ phần trăm  có thể không được hiển thị tự động cho từng thành phần đối với loại biểu đồ này, nhưng thường có một tùy  chọn để cho phép các tỷ lệ phần trăm này được hiển thị trên các cột hoặc thanh. 

Biểu đồ 12 

Phân tích tổng doanh thu theo khu vực 

Biểu đồ 13 

Phân tích tổng chi phí theo từng loại

Người đọc sẽ giải thích dữ liệu trong Biểu đồ 12 và 13 như thế nào? 

Biểu đồ 12 và 13 không cung cấp cho người đọc bất kỳ thông tin nào liên quan đến mức tổng doanh thu hoặc  tổng chi phí sản xuất và do đó không thể nhận xét về bất kỳ xu hướng nào về việc tổng doanh thu và tổng chi  phí tăng hay giảm trong khoảng thời gian 5 năm này. Tuy nhiên, chúng cung cấp phân tích hữu ích về phân  

tích doanh thu theo khu vực (Biểu đồ 12) và phân tích tổng chi phí sản xuất theo loại chi phí (Biểu đồ 13) tr  và đây là thông tin hữu ích cho việc ra quyết định. Chúng ta có thể thấy rõ ràng từ Biểu đồ 12 rằng đã có sự thay đổi dần dần trong cơ cấu doanh thu theo khu vực trong giai đoạn này. Một lần nữa, điều quan trọng cần  nhớ là tỷ lệ phần trăm giảm (hoặc tăng) không nhất thiết có nghĩa là số liệu tuyệt đối đang giảm (hoặc tăng). 

Biểu đồ phân tán hoặc biểu đồ XY (Biểu đồ 14 và 15) 

Biểu đồ phân tán có thể được sử dụng để vẽ hai bộ số liệu dưới dạng một chuỗi trên biểu đồ với một bộ số trở thành tọa độ x và bộ số thứ hai trở thành tọa độ y. Biểu đồ phân tán có hai trục số đại diện cho hai biến. 

Dữ liệu được cung cấp trong bảng dưới đây đã được sử dụng để tạo biểu đồ phân tán thể hiện mối quan hệ giữa mức sản lượng và tổng chi phí. Mức sản lượng thay đổi theo từng tháng nhưng có những tháng có cùng  mức sản lượng nhưng chi phí khác nhau. 

Output: sản lượng 

Total cost: tổng chi phí 

Thông tin này đã được trình bày trong Biểu đồ 14 dưới dạng biểu đồ phân tán. Các điểm trên biểu đồ phân tán  có thể được sử dụng để ước tính xu hướng và đường xu hướng hoặc đường phù hợp nhất có thể được thêm vào  biểu đồ để cung cấp thông tin hữu ích cho dự báo như trong Biểu đồ 15. 

Biểu đồ 14 

Tổng chi phí 

Biểu đồ 15 

Tổng chi phí

Trình bày dữ liệu sai 

Sau khi xem xét nhiều loại biểu đồ trình bày thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định, cần xem xét một số tình  huống khi chọn sai loại biểu đồ hoặc có thể là tỷ lệ không phù hợp có thể tạo ra kết quả không hữu ích hoặc  thậm chí có thể cung cấp sai thông tin. Để tránh nhầm lẫn với các loại biểu đồ thích hợp khác trong bài viết đã  được đặt tên bằng số, các loại biểu đồ không phù hợp này được gọi là là Biểu đồ từ A đến D. 

Biểu đồ A sử dụng dữ liệu giống như Biểu đồ 2 nhưng là biểu đồ đường kẻ ít hiệu quả hơn. Cũng lưu ý rằng  tiêu đề biểu đồ không cho người đọc biết dữ liệu nào đang được trình bày (doanh thu/chi phí/lợi nhuận?) và  trục y không có tiêu đề, do đó người đọc không biết những con số này biểu thị điều gì. Đây là một ví dụ về biểu đồ không truyền đạt thông tin hiệu quả. Biểu đồ 2 cung cấp một bản trình bày rõ ràng hơn Biểu đồ A cho  tập dữ liệu cụ thể đó. 

Biểu đồ A 

Biểu đồ B là một ví dụ về biểu đồ nhiều đường nhưng ở đây tỷ lệ lại là một vấn đề. Chi phí nguyên liệu cho  mỗi kg A dao động trong khoảng 4–5 đô la, chi phí B dao động trong khoảng 6–7 đô la và C trong khoảng 8– 9 đô la. Để hiển thị dữ liệu cho cả ba tài liệu trên cùng một biểu đồ, thang đo phải mở rộng từ khoảng $3 đến  $9. Kết quả là bất kỳ biến thể nhỏ nào về giá đều không được thông báo rõ ràng trên biểu đồ này. Do đó, đây  là loại biểu đồ không phù hợp cho dạng dữ liệu này. Biểu đồ 16 thể hiện một biểu đồ đường đơn sử dụng cùng  một dữ liệu nhưng chỉ dành cho nguyên liệu thô A và người đọc lúc này có thể thấy rõ sự biến động của đơn  giá nguyên vật liệu và xem xét tác động của nó đối với giá thành sản phẩm. 

Biểu đồ B 

Chi phí nguyên vật liệu trung bình từ tháng 1 – tháng 6 năm 2013  

(Lựa chọn biểu đồ không phù hợp)

Biểu đồ 16 

Nguyên liệu A – Chi phí trung bình mỗi K 

Biểu đồ C là một ví dụ thú vị. Ở đây, một biểu đồ cột xếp chồng lên nhau đã kết hợp 2 bộ dữ liệu tổng doanh  thu VÀ tổng chi phí đã được hiển thị trong Biểu đồ 6 và 7. Chúng ta nên tự hỏi, con số được gọi là kết quả của  việc cộng tổng doanh thu cộng với tổng chi phí là gì? Đây là một con số vô nghĩa và KHÔNG nên trình bày  dữ liệu này dưới dạng biểu đồ cột hoặc biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau. Biểu đồ D hiển thị biểu đồ cột xếp  chồng 100% nhưng giống như Biểu đồ C, cố gắng hiển thị bảng phân tích của một con số tổng vô nghĩa và do  đó, việc sử dụng loại biểu đồ cột xếp chồng 100% là không phù hợp. Phải luôn cẩn thận để chọn một biểu đồ thích hợp cho dữ liệu được trình bày. 

Biểu đồ C Biểu đồ D 

Phân tích tổng số ( Loại biểu đồ không phù hợp) Phân tích tổng số ( Loại biểu đồ không phù hợp)

Phần kết luận 

Với rất nhiều loại biểu đồ và đồ thị khác nhau có sẵn, phải luôn cẩn thận để đảm bảo rằng loại biểu đồ thích  hợp nàp được chọn để trình bày và truyền đạt thông tin đến người dùng một cách hiệu quả . Chúng ta cũng  thấy tác động của việc sử dụng tỷ lệ không phù hợp trong Biểu đồ B, vì vậy ngay cả khi chọn loại biểu đồ thích  hợp, các vấn đề như tỷ lệ, tiêu đề phù hợp và loại chú thích phải được xem xét cẩn thận để đảm bảo truyền đạt  dữ liệu hiệu quả để có thể giải thích và hỗ trợ việc ra quyết định.

Total Views: 895 ,